Khoa học – Công nghệ

0
148
Khoa học - Công nghệ

1.1. trong tro, xỉ thải ở khu đô thị có nhiều nguyên tố kim loại gây ung thư cho động vật

“Có nhiều nguyên tố kim loại nặng trong tro và xỉ, có thể gây ung thư cho con người.”

– Đúng là các nguyên tố kim loại nặng có thể gây ung thư, nhưng hãy nhớ rằng các nguyên tố kim loại nặng, cũng như các nguyên tố hóa học khác, có mặt ở khắp mọi nơi, nhặt một ít bụi bẩn cũng có thể gây hại. có thể có hàng chục nguyên tố kim loại nặng. . trong cơ thể động vật cũng có nhiều nguyên tố kim loại nặng, nhưng đây là những nguyên tố vi lượng, cần thiết để duy trì và phát triển sự sống của sinh vật. ví dụ, sắt cần thiết để tạo ra các tế bào hồng cầu …

– Nhận định này không đúng vì không nói rõ là bao nhiêu nguyên tố này, chỉ biết nói chung là có hàng chục nguyên tố kim loại nặng gây ung thư cho con người. Lo ngại, các cơ quan quản lý môi trường cũng coi tro xỉ là nguy hiểm. cặn, có thể gây ung thư và do đó là rào cản đối với việc sử dụng tro. Việt Nam có qcvn 07: 2009 / btnmt về quản lý nồng độ hóa chất nguy hại trong chất thải rắn thông qua kết quả phân tích nmnd cũng như kết quả phân tích của tổng cục môi trường (bộ tài nguyên và môi trường) . ) nồng độ kim loại nặng rất nhỏ, thấp hơn hàng nghìn lần so với quy định, cũng là nguyên tố vi lượng trong tro.

1.2. Trong tro, xỉ thải ra từ nhà máy nhiệt điện có nhiều hạt bụi cỡ hạt & lt; 2,5 mm (chiều 2,5)

Trong tro xỉ thải ra từ đập chứa quá nhiều hạt bụi có kích thước & lt; 2,5mm (pm2,5), là những hạt bụi khó lắng đọng nên dễ bị động vật hít phải và đọng lại ở phổi, gây ung thư. khả năng gây ung thư do bụi & lt; 2,5mm có thể đúng, nhưng nguyên nhân của bụi này không đúng là do:

– nmndts từ nhỏ nhất đến lớn nhất có bộ lọc tĩnh điện. Theo tĩnh điện, các hạt có kích thước càng nhỏ, càng gần kích thước phân tử thì lực hút tĩnh điện càng lớn, do đó, khi khói và bụi đi qua thiết bị lọc bụi tĩnh điện, các hạt nhỏ hơn sẽ bị giữ lại trong các hạt cực đoan.

– ống khói có chiều cao ³ 200 m, các hạt bụi rất nhỏ nếu không bị giữ lại trong bộ lọc bụi tĩnh điện sẽ bay ra ngoài ống khói rất xa, thậm chí là 50-100 km, nhưng rất khó lắng đọng lại. , vì vậy nó hầu như không ảnh hưởng đến nồng độ của không khí xung quanh là môi trường sống, vậy làm sao nó có thể ở tầng dưới (khí quyển) ngay trên mặt đất, chui vào phổi của động vật? có thể xác nhận sự hiện diện của bụi & lt; chiều 2.5 là do các hoạt động khác trên mặt đất như giao thông, xây dựng…

1.3. mỗi năm có 4.300 người chết sớm vì nắng nóng, con số này sẽ tăng thêm 17.500 người vào năm 2030 tùy thuộc vào tốc độ gia tăng sản xuất đô thị

tổ chức nghiên cứu và phát triển green id cho biết “theo nghiên cứu của trường đại học harvard (Mỹ), mỗi năm ở Việt Nam có 4.300 ca tử vong sớm, gần đây con số này đã tăng lên 17.500 ca tử vong do nguyên nhân trong nước”.

chúng tôi đã phủ nhận thông tin này rằng nếu cuộc điều tra của harvard là chính xác, tại sao không cảnh báo ngay cho chúng tôi? u? vì vậy đầu tư của nó gấp 108 lần Việt Nam và của Trung Quốc gấp 185 lần Việt Nam. tỷ lệ này là 79%), đối với Đức tỷ lệ đầu tư nước ngoài là 44,5%, gấp 15,5 lần so với Việt Nam, đối với Úc (tỷ lệ đầu tư nước ngoài là 68%), gấp 22 lần so với Việt Nam.

trình độ văn hóa của người Mỹ và người Đức cao, hệ thống luật pháp hoàn hảo, nếu chính sách ngoại giao khiến nhiều người chết yểu như vậy, tại sao họ không kiện các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư từ những nước vẫn đang phát triển và vẫn chiếm tỷ lệ chính ? .

1.4. Tro xỉ thải ra từ nhà máy điện được thải ra bãi rác tạo thành bụi ở các khu dân cư xung quanh, thường là nhà máy nhiệt điện vinh tân 2

nmnnd vinh tan được thiết kế để thải tro, xỉ bay từ nhà máy ra bãi chứa bằng phương thức vận chuyển khô (vận chuyển bằng xe tải). Tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Bắc Bình Thuận (huyện Tuy Phong, nơi có nhà máy nhiệt điện vinh tân 2) có khí hậu đặc trưng của miền Trung, xa hơn về phía Nam: nắng, gió và khô cằn, nên khi thải tro, xỉ ra bãi bằng phương pháp khô, gió thổi sẽ thổi bụi từ khu dân cư xung quanh. đây là sự thật, hậu quả để lại là rất lớn và đó là bài học kinh nghiệm lớn cho năm mới 2 cũng như cho các thế hệ khác.

phương pháp khắc phục: rất đắt và cố định.

ii. Đặc điểm của tro, xỉ thải ra từ thành phố

2.1. tính tổng khối lượng tro, xỉ thải ra hàng năm từ nmnĐt

Than trong nước có độ tro rất cao, than dùng cho điện từ cám 5a đến cám 6b có độ tro theo mẫu khô ak = 29 – 37,5% (tcvn 8910: 2015), trong khi than nhập khẩu có độ tro thấp. hàm lượng, tro thấp hơn nhiều, ví dụ:

than bitum indonesia: alv = 2 – 6%

lượng than nhập khẩu sẽ tăng dần và sẽ chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng lượng than dùng cho điện (xem bảng 1).

Bảng 1. Sản lượng than nhập khẩu và quốc gia cho điện

đơn vị: nghìn tấn

tt

các loại than

2019

2020

Năm 2025

2030

2035

20 40

1

khả năng cung cấp than cho điện

~ 35.000

36.300

39.800

39.500

2

nhu cầu điện than

60.000

86.300

119.800

127.500

3

sự khan hiếm

25.000

50.000

80.000

88.000

Nếu than nhập khẩu chỉ là bitum phụ có độ tro trung bình 5% và than sản xuất trong nước có độ tro trung bình là 32% thì tổng lượng tro, xỉ thải ra (tro bay và xỉ) trong các năm 2020, 2025, 2030 và 2035 được trình bày trong bảng 2.

bảng 2. lượng tro, xỉ thải ra từ thành phố khi đốt than quốc gia và than nhập khẩu

đơn vị: triệu tấn

tt

2020

Năm 2025

2030

2035

2040

1

tổng sản lượng than quốc gia

35,00

36,30

39,80

39,50

2

tổng lượng tro, xỉ thải ra khi đốt than trong nước (hàm lượng tro trung bình 32%)

11,20

11,62

12,74

12,64

2.1. tro bay (85%)

9,52

9,88

10,83

10,74

2.2. cặn bã (15%)

1,68

1,74

1,91

1,90

3

tổng lượng than nhập khẩu

25,00

50,00

80,00

88,00

4

tổng lượng tro, xỉ thải ra khi đốt than nhập khẩu (hàm lượng tro trung bình 5%)

1,25

2,50

4,00

4,40

4.1. tro bay (85%)

1,06

2,12

3,40

3,74

4.2. cặn bã (15%)

0,19

0,38

0,60

0,66

5

tổng lượng tro và xỉ thải ra

12,45

14,12

16,74

17,04

5.1. tro bay

10,58

12,00

14,23

14,48

5.2. cặn bã

1,87

2,12

2,51

2,56

6

tỷ lệ giữa than trong nước và than nhập khẩu

1,40

0,73

0,50

0,45

7

tỷ lệ tro than trong nước / than nhập khẩu

8,96

4,65

3,16

2,87

* nhận xét trên bảng 2:

– lượng tro, xỉ thải ra chủ yếu từ các nhà máy nhiệt điện than trong nước:

+ Năm 2020, lượng than tiêu thụ trong nước gấp 1,4 lần than nhập khẩu nhưng lượng tro, xỉ thải ra gấp 8,96 lần.

+ Năm 2030, lượng than trong nước chiếm 1/3 tổng nhu cầu than (tương đương 1/2 tổng lượng than nhập khẩu) nhưng lượng tro xỉ thải ra gấp 3,18 lần than nhập khẩu.

– Than trong nước là than khó cháy, khó cháy, tỷ lệ than chưa cháy trong tro phổ biến 15-20% nên không thể là nguyên liệu tốt để sản xuất vật liệu xây dựng.

p>

Ngược lại, than nhập khẩu là than nhiên liệu, ít tro nên tro là nguyên liệu tốt, có thể sử dụng ngay để sản xuất nguyên liệu.

2.2. thành phần hóa học của tro

Có 2 loại nồi hơi, được phân loại theo công nghệ đốt của nồi hơi:

– nồi hơi than dạng bột

– nồi hơi lớp sôi

Trong quá trình thải ra tro và xỉ, chúng được chia thành 2 loại:

– trong tro bay theo đường đi của khói, nó được thu hồi qua các thiết bị lọc bụi tĩnh điện trước khi thải ra bên ngoài qua ống khói.

– xỉ thải ra ở đáy buồng đốt của lò hơi.

2.2.1. nồi hơi than bột

Than bột có kích thước hạt rất mịn, phổ biến nhất là & lt; 70mm Tro bay là oxit kim loại còn sót lại sau khi các hạt than được đốt cháy, do đó kích thước hạt tro thường nhỏ hơn so với than bột.

cacbon dạng bột phun vào buồng đốt, cháy thành ngọn lửa như khi phun dầu hoặc khí. tùy thuộc vào tính dễ cháy của than, hàm lượng cacbon trong tro:

– đối với than antraxit trong nước có thể lên đến 15 – 20%

– đối với than bitum thông thường và than non-bitum & lt; 6%.

Tro bay theo đường dẫn khói được thu hồi qua thiết bị lọc bụi tĩnh điện, hiện tại hiệu suất khử bụi của thiết bị lọc bụi tĩnh điện đã đạt & gt; 99,75%, gần như là triệt để. tỷ lệ tro bay thường là 85% tổng lượng tro từ quá trình đốt than.

Xỉ được thải ra dưới đáy lò, chiếm 15% tổng lượng tro, vì nó được cô đặc và lưu giữ trong buồng đốt trong thời gian dài hơn, hàm lượng cacbon chưa cháy hết vẫn còn trong tro thường & lt ; 6%.

2.2.2. các lớp đun sôi nồi hơi

so2 sinh ra khi đốt lưu huỳnh trong than bị khử bằng cách cho đá vôi (caco3) vào buồng đốt cùng với than, dưới tác dụng của nhiệt, caco3 phân hủy thành cao và co2. Thạch cao kết hợp với SO2 tạo thành Caso4 (thạch cao). như vậy trong tro, xỉ cũng có trường hợp 4 và dư cao nên tro, xỉ không có chất lượng tốt để làm nguyên liệu sản xuất vật liệu. Thạch cao cũng không được thu hồi riêng lẻ như trong các lò hơi đốt than, tức là thạch cao cũng là chất thải cùng với tro, xỉ.

2.2.3. thành phần hóa học của tro xỉ

Thành phần hóa học của xỉ bay chủ yếu là các oxit kim loại. Bảng 3, 4, 5, 6 trình bày thành phần hóa học của tro, xỉ trong các nhà máy nhiệt điện sử dụng nồi hơi than bột và lò tầng sôi, theo số liệu phân tích của nhà máy điện hạt nhân và Cục quản lý môi trường Việt Nam, Bộ tài nguyên và môi trường. tài nguyên môi trường.

Bảng 3. Đặc tính của tro bay từ các nhà máy điện sử dụng nồi hơi đốt than bột

nhà máy nhiệt điện

vinh tan 2

ven biển 1

quang ninh

ven biển 3

vinh tan 4

sio2,%

48,1

55,7

50,10

46,40

45,68

al2o3,%

15,8

23,1

24,53

22,00

29,45

fe2o3,%

17,10

6,10

6,07

15,60

13,88

tio2,%

0,69

0,52

0,65

cao,%

12,20

0,70

3,92

7,10

4,78

mgo,%

2,18

1,70

1,21

2,90

1,60

mg2o,%

0,93

0,54

0,61

0,36

k2o,%

1,85

3,76

1,23

1,00

không,%

0,08

0,13

p2o5,%

0,01

0,12

0,44

c,%

5,57

9,60

5,0¸6,0

5,80

Bảng 4. Các đặc tính của xỉ đáy lò từ các nhà máy nhiệt điện than.

nhà máy nhiệt điện

vinh tan 2

ven biển 1

sio2,%

71,1

57,30

al2o3,%

11.0

22,80

fe2o3,%

10,3

6,31

tio2,%

0,66

0,55

cao,%

1,16

1.13

mgo,%

0,51

1,42

mg2o,%

0,26

k2o,%

3,12

3,52

không,%

0,05

0,04

p2o5,%

0,05

0,01

c,%

6,84

Bảng 5. Đặc tính của tro bay từ các lò hơi sử dụng nồi hơi lớp sôi.

nhà máy nhiệt điện

mông dương 1

na dương 1

băng ghế cao

họ là đồng

thủy triều đông

Phả hệ 1 + 2

sio2,%

50,10

24,38

52,72

48,20

45,10

23,00

al2o3,%

24,53

13,22

11,95

19,29

23,75

14,90

fe2o3,%

6,07

7,08

10,94

7,04

11,49

6,30

tio2,%

0,28

0,41

0,03

0,02

cao,%

3,92

22,80

14,14

1,67

1,05

1,70

mgo,%

1,21

1,41

17,1

1,55

1,85

mg2o,%

0,30

0,05

0,414

0,32

k2o,%

1,57

1,15

3.01

2,75

1,52

không,%

p2o5,%

c,%

9,60

19,46

45,55

29,72

16,62

20,60

nhà máy nhiệt điện

dương sau 1

na dương 1

băng ghế cao

họ là đồng

thủy triều đông

Gia phả 1 + 2

sio2,%

60,00

34,48

52,55

62,28

60,21

34,40

al2o3,%

23,10

18,16

14,53

21,04

23,75

13,00

fe2o3,%

5,19

4,95

3,67

6,68

3,99

6,20

fio2,%

0,44

0,64

0,26

6,02

cao,%

4,76

21,14

14,91

1308

1,67

1,00

mgo,%

1,61

0,71

1,71

1,00

1,55

mg2o,%

0,25

0,21

0,30

0,33

k2o,%

0,25

2,73

2,29

2,13

3,18

1,00

không,%

p2o5,%

c,%

2,36

5,90

2,91

4,69

6,80

5,60

– oxit axit (sio2, al2o3, tio2) chiếm tỉ trọng lớn nhất trong thành phần hóa học của tro và xỉ, là những oxit làm tăng nhiệt độ nóng chảy của tro (tính chất rất quan trọng khi đốt). buồng đốt và cả các ôxít có vai trò nâng cao chất lượng tro, xỉ làm nguyên liệu sản xuất vật liệu).

– Oxit kiềm (alto, mgo, k2o) chiếm một tỷ lệ nhỏ, chúng là những oxit làm giảm nhiệt độ nóng chảy của tro, chúng là những oxit ưa nước, khi tiếp xúc với nước sẽ tạo thành hiđroxit làm giảm chất lượng. vlxd.

2.2.4. hàm lượng các nguyên tố kim loại nặng trong tro

các nguyên tố kim loại nặng trong tro và xỉ của một số nano được liệt kê trong bảng 7.

bảng 7. kết quả phân tích xác định hàm lượng nguyên tố kim loại nặng nmnĐ so với nồng độ quy định qcvn07: 2009 / btnmt

tt

phần tử

ven biển 1

vinh tan 2

quang ninh

qcvn 07: 2009 / btnmt

đơn vị

kết quả

đơn vị

kết quả

đơn vị

kết quả

nồng độ tuyệt đối, ppm

nồng độ rửa trôi, mg / l

1

Xyanua th

ppm

0,033

mg / l

km / h

ppm

10,51

590

2

với tư cách là

ppm

19,9

mg / l

0,028

ppm

15,56

40

2.0

3

ba

ppm

82,3

mg / l

km / h

ppm

& lt; 0,01

2000

100,0

4

pb

ppm

10.1

mg / l

km / h

ppm

3,82

300

15.0

5

đồng

ppm

0,9

mg / l

km / h

ppm

0,27

1600

80.0

6

zn

ppm

28,8

mg / l

0,45

ppm

11,91

5000

250

7

cũng không

ppm

11,6

mg / l

km / h

ppm

7,43

1400

70.0

8

hg

ppm

1,78

mg / l

km / h

ppm

0,34

4

0,2

9

cr

ppm

0,85

mg / l

ppm

2,07

100

5,0

10

đi

ppm

35,6

mg / l

km / h

ppm

16,26

500

25,0

11

sb

mg / l

km / h

ppm

0,65

20

1

12

ag

mg / l

km / h

ppm

& lt; 0,01

100

5

13

trở thành

mg / l

km / h

ppm

0,11

2

0,1

14

cd

mg / l

km / h

ppm

0,17

10

0,5

15

tháng

mg / l

km / h

ppm

1,55

7000

350

16

mg / l

km / h

ppm

& lt; 0,01

20

1

17

ow

mg / l

km / h

ppm

* Nhận xét bảng 7: các nguyên tố kim loại có nồng độ rất nhỏ, nhiều nguyên tố có nồng độ nhỏ hơn hàng nghìn lần so với nồng độ quy định trong qcvn 07: 2009 / btnmt

iii. vấn đề sử dụng tro của nmnĐ

3.1. các văn bản nêu rõ về việc sử dụng tro, xỉ từ nmnĐt

– Ngày 23 tháng 9 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ quyết định số. 1696 / qd-ttg về một loạt các giải pháp xử lý tro, thạch cao và các sản phẩm hóa chất làm nguyên liệu sản xuất. vlxd.

– vào ngày 2 tháng 4 năm 2015, trong tài liệu số. 110 / tb-vpcp, thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải về việc triển khai chương trình phát triển vật liệu xây không nung.

– Ngày 18/7/2015 tại văn bản số 279 / tb-vpcp, công bố kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải tại cuộc họp về giải pháp xử lý tro, xỉ của các nhà máy nhiệt điện.

– Ngày 12 tháng 4 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 452 / QĐ-ttg phê duyệt Đề án đẩy mạnh xử lý, sử dụng tro, xỉ, thạch cao của các nhà máy nhiệt điện, hóa chất, phân bón làm nguyên liệu sản xuất. của vlxd và trong các công trình xây dựng.

– qd / 2017 / qd-ttg, quảng bá việc xử lý và sử dụng tro thạch cao từ các nhà máy, phân bón hóa học làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng và sử dụng trong các công trình xây dựng.

– tcvn 12249: 2018 – tro xỉ từ các nhà máy nhiệt điện than làm vật liệu san lấp – yêu cầu chung.

– thông tư: 3314 / bxd-vlxd ngày 28 tháng 12 năm 2018 hướng dẫn sử dụng tro, bột trét và bột trét làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng và trong các công trình xây dựng.

3.2. hội nghị ngành về quảng bá sử dụng tro, xỉ nmnĐt

Ngoài ra, tại các bộ, ngành chức năng, các tập đoàn cũng tổ chức các hội nghị, hội thảo bàn về việc thúc đẩy sử dụng tro, xỉ và vật liệu xây dựng từ tro, xỉ. ví dụ:

– Ngày 23/7/2015, Bộ Công Thương tổ chức Hội nghị bàn giải pháp thực hiện Quyết định 1696 / QĐ-TTg đối với việc xử lý, sử dụng tro, xỉ, sau đó đến ngày 31/12/2015, Bộ Công Thương đã Bộ công thương tổ chức hội nghị xử lý tro, xỉ của các nhà đầu tư do Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng chủ trì với sự tham dự của đại diện các bộ xây dựng, năng lượng, dầu khí, các tập đoàn than – khoáng sản, các công ty sản xuất vật liệu từ tro xỉ. và xỉ. Tại hội nghị này, Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng đã giao cho Tổng cục Năng lượng nghiên cứu, đề xuất dự thảo trình Thủ tướng Chính phủ xem xét các cơ chế khuyến khích về tài khóa, vốn, công nghệ … nhằm khuyến khích dự án xử lý tro, xỉ bằng biến tần.

khuyến nghị Bộ Xây dựng xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật về việc sử dụng tro và xỉ từ các bộ biến tần để xây dựng công trình, san lấp mặt bằng và các mục đích khác.

– Ngày 20/6/2018, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã tổ chức Hội nghị “Sản xuất vật liệu xây dựng từ tro, xỉ” với sự tham gia của hầu hết các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng (chủ yếu là gạch ngói) không nung, thu mua, chế biến và xuất khẩu tro, xỉ từ thành phố).

Tóm lại, vấn đề tro xỉ của các nhà máy điện đang là chủ đề rất nóng của các nhà máy điện, vì bãi tro xỉ của nhiều nhà máy điện gần như đã phát huy hết công suất, do cho đến nay vẫn chưa có hệ thống tiêu chuẩn. tro, xỉ, đối với nguyên liệu từ tro, xỉ, dư luận vẫn coi tro, xỉ là chất thải độc hại nên rất khó sản xuất nguyên liệu.

3.3. diện tích các bãi chứa tro, xỉ ở nmnĐt

Theo quyết định 1696 / qd-ttg, khu chứa tro xỉ của các nhà máy nhiệt điện chỉ có công suất chứa tối đa là 2 năm sản xuất. do đó, bãi chứa của nhiều nhà máy nhiệt điện gần như đã đầy, nguy cơ ngừng phát điện là hiện hữu (xem bảng 8 về diện tích bãi chứa tro, xỉ của các nhà máy nhiệt điện).

Bảng 8. Khu vực chứa tro xỉ của nhà máy nhiệt điện

tt

nmnĐ

khu vực bãi chứa tro, ha

khối lượng tro, xỉ thải ra tr.tấn / năm

tổng khối lượng lưu giữ, tr.ton

số năm cần lưu giữ, số năm

1

quay lại

27,7

0,802

0

25,0

2

bụi thưa ngài

29,0

0,337

0,75

4,5

3

quang ninh

15.0

0,945

4,80

7,0

4

đúng phòng

56,0

0,949

1.0

3.0

5

câu chuyện 1

74,7

0,359

0,85

6,3

6

vinh tan 2

38,37

1371

3,90

2,9

7

vinh tan 4

0,544

8

ven biển 1

31.0

1006

1,73

1.4

9

ven biển 3

29,0

1112

0,065

9,6

10

mông dương 1

24.0

1125

1,70

0,8

11

na dương 1

57,6

0,485

2002

15

12

băng ghế cao

4,4

0,260

1806

10

13

họ là đồng

2,2

0,605

2020

4

14

thủy triều đông

24.0

1048

1255

7

15

Phả hệ 1 + 2

47,0

1530

5535

6

16

nông nghiệp

10,7

0,052

0,108

25

tổng số

12,530

27.521

3.4. khả năng sử dụng tro

a. tro bay: tất cả các nhà máy nhiệt điện than đều được trang bị thiết bị lọc bụi tĩnh điện, với 3-4 trường tĩnh điện, hiệu suất lọc bụi đã đạt & gt; 99,75%. bụi (tro bay) qua thiết bị lọc bụi tĩnh điện được thu gom vào các xilô lớn và xuất đi nơi sử dụng. nếu không có nơi sử dụng thì thải ra bãi bằng đường khô (dùng xe tải) hoặc đường ướt (xả ra bãi bằng nước có điều áp trong ống hoặc mương kín).

b. Xỉ đáy lò: Hàm lượng cacbon chưa cháy trong xỉ lò đáy thấp hơn nhiều so với tro bay và đã được sử dụng làm chất phụ gia để sản xuất xi măng trong quá trình nghiền clinker.

c. Theo Quyết định số 1696 / qd-ttg ngày 23 tháng 9 năm 2014, khu vực chứa tro xỉ chỉ được giao diện tích đủ để chứa lượng tro, xỉ thải ra trong 2 năm vận hành của nhà máy.

Ngày 12 tháng 4 năm 2017, tại Quyết định 452 / Qđ-ttg của Thủ tướng Chính phủ đã nhắc lại mục tiêu sử dụng tro, xỉ đến năm 2020 đảm bảo lượng tro, xỉ thải ra không vượt quá tổng lượng phát thải. nmnd trong 2 năm.

do đó, vấn đề quan trọng trong việc xử lý tro xỉ thải ra môi trường là sử dụng tro xỉ.

d. hướng dẫn sử dụng tro:

– Xỉ đáy lò: về cơ bản đã được sử dụng làm phụ gia sản xuất xi măng (theo tỷ lệ tương ứng với sản lượng xi măng hàng năm của cả nước).

– Tro bay: để sử dụng tro bay cần đảm bảo hàm lượng cacbon chưa cháy hết trong tro là ≤6%. các nhà máy nhiệt điện than trong nước phải cải tiến chế độ đốt than để đạt được mục tiêu này. Việc đạt được mục tiêu này có lợi cả nâng cao hiệu suất lò hơi (có thể lên đến 2-3%) và tuân thủ việc sử dụng tro xỉ làm vật liệu xây dựng mà không cần xử lý để khử cacbon.

Phương pháp tốt nhất là trộn than trong nước với than nhập khẩu có hàm lượng chất bay hơi cao và hàm lượng tro thấp.

– hướng dẫn sử dụng tro bay là:

+ Sản xuất gạch không nung, bình quân 1 triệu tấn tro bay có thể sản xuất được 600 triệu viên gạch đặc kích thước tiêu chuẩn. đến năm 2030, với tổng lượng tro bay là 14,23 triệu tấn thì chỉ sản xuất được từ 8,5 – 9 tỷ viên gạch không nung, so với nhu cầu 40 tỷ viên (năm 2030) thì tiếp tục là hàng tỷ viên.

+ xây dựng các đập lớn bằng công nghệ bê tông đầm lăn. các đập thủy điện sơn la, lai châu được xây dựng theo công nghệ này, lượng tro bay sử dụng hàng triệu tấn mỗi đập. tro bay dùng cho công nghệ đầm lăn yêu cầu hàm lượng cacbon chưa cháy trong tro phải <6%.

+ làm nền đường. đây là một khu vực có nhu cầu cao. Riêng đối với nền đường, tro bay do các nhà máy điện hạt nhân tạo ra là không đủ.

khi đó, nếu cả hai lĩnh vực xây dựng và giao thông đều có kế hoạch sử dụng tro bay làm vật liệu xây dựng thì lượng tro bay và xỉ thải ra sẽ cạn kiệt, thậm chí là không đủ.

e. những trở ngại trong việc sử dụng tro và xỉ làm vlxd

– Cũng có dư luận cho rằng trong tro xỉ có nhiều nguyên tố kim loại nặng, gây ung thư cho động vật. điều này không đúng vì phản ứng cháy là phản ứng hóa học giữa nguyên tố nhiên liệu oxy và cacbon, không phải là phản ứng phân hạch hạt nhân để tạo ra nguyên tố mới. trong than đá mà không có các nguyên tố kim loại này (ở mức độ vết) thì làm sao có chúng trong đống tro tàn.

– Các quy định, quy chuẩn chưa đủ để giúp cho việc sử dụng tro, xỉ làm vật liệu xây dựng, xác định sự phù hợp, hợp chuẩn của vật liệu xây dựng sử dụng tro, xỉ làm nguyên liệu khiến người dân e ngại khi sử dụng. .

g. kết luận về tro, xỉ của ngành khai thác than

Tro xỉ không phải là chất thải nguy hại, kết quả phân tích tro xỉ hàng năm của các nhà máy điện hạt nhân và của Tổng cục Môi trường – Bộ Tài nguyên Môi trường đều khẳng định tro, xỉ và các nguyên tố kim loại nặng. hoặc không có, hoặc có hàm lượng rất nhỏ, thậm chí không đáng kể so với giới hạn quy định (bản chất là các nguyên tố vi lượng) nên hoàn toàn yên tâm sử dụng tro, xỉ làm phế phẩm. .

– Các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông vận tải) cần hoàn thiện trong thời gian sớm nhất hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật toàn diện về tro, xỉ và vật liệu tro, xỉ để đảm bảo việc sử dụng tro, xỉ vì nguyên liệu thô là hết sức cần thiết, để xác định sự tuân thủ tiêu chuẩn và quy định đối với tất cả các loại nguyên liệu sản xuất từ ​​tro bay và xỉ.

iv. đánh giá chung về việc sử dụng tro

Trên khắp thế giới, tro và xỉ biến tần được coi là nguyên liệu quý để sản xuất vật liệu xây dựng. Theo báo cáo, Nhật Bản sử dụng 100% tro xỉ thải ra từ Trung Quốc, Hàn Quốc sử dụng 97% tro xỉ từ Trung Quốc. Khi xây dựng đập thủy điện Sơn La bằng công nghệ bê tông đầm lăn, tro bay dự kiến ​​được nhập từ các nhà máy điện hạt nhân (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) với giá tro bay gần bằng giá xi măng.

Tro bay dùng để lu lèn phải có hàm lượng cacbon chưa cháy trong tro & lt; 6%, ít hơn là tốt hơn. Tất cả các nước trên đều sử dụng than bitum và than phụ bitum nhập khẩu, là loại than rất dễ cháy, dễ bắt lửa và cháy (lượng cacbon trong tro rất thấp). Từ nay, than cho điện dần dần sẽ chủ yếu là than nhập khẩu, do đó tro xỉ tạo ra cũng sẽ có ít, thậm chí gần như kg, là cacbon chưa cháy.

Các nhà máy điện được thiết kế để đốt than khó đốt trong nước, nếu trộn với than non-bitum nhập khẩu với tỷ lệ nhất định (đến 30%) sẽ cải thiện đáng kể chất lượng than, về mặt than. đốt cháy. , tro xỉ thải ra sẽ có chức năng lược cacbon & lt; 6%.

Khi đó, việc phối trộn than nhập khẩu ngoài việc khắc phục tình trạng thiếu than còn có ý nghĩa rất quan trọng là cải thiện chế độ đốt của than, giảm hàm lượng cacbon trong tro xỉ, có ý nghĩa kinh tế. điều quan trọng là nâng cao hiệu suất đốt, giảm tiêu thụ cacbon (đến 2%), cũng rất quan trọng là sử dụng ngay tro, xỉ làm vật liệu xây dựng, không cần nghiên cứu và có giải pháp giảm cacbon trong tro xỉ.

pp. ts. Trương Duy Nghĩa – Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Nhiệt Việt Nam

(tài liệu hội thảo “bảo vệ môi trường trong khai thác, chế biến và sử dụng than, khoáng sản và dầu”)

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here